CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ 30/4/1975 – MỐC SON LỊCH SỬ KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC

 

Trong lịch sử dân tộc, ngày 30/4/1975 là dấu mốc vĩ đại, bước ngoặt quyết định đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, cả nước đi lên CNXH. Vào Những ngày tháng 4 này, trong khi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang hướng về kỷ niệm 46 năm Chiến thắng 30/4, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước thì vẫn có không ít tổ chức phản động, phần tử cực đoan, bất mãn chính trị vẫn cố tình xuyên tạc ngày toàn thắng 30-4, kích động lòng hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ta.

Những tiếng nói lạc lõng, những luận điệu “không có gì mới”, mang tính “hoài niệm” về một thất bại tủi nhục và tất yếu

Chiến tranh đã lùi xa, sự phân định giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa chiến thắng và thất bại đã rõ ràng. Việt Nam đã trở thành đối tác chiến lược, đối tác toàn diện của nhiều quốc gia; trong đó, có các quốc gia từng trực tiếp hoặc tham gia chiến tranh xâm lược ngày đó, nay cùng hợp tác, phát triển. Thế nhưng, ở nơi này hay nơi khác, trong một thiểu số nào đó “có vấn đề về chính trị” mỗi khi đến dịp 30/4 luôn tìm cách khuấy đảo lên sự thù hận với các lý lẽ, luận điệu hoàn toàn phi lý. Trên một số trang mạng xã hội, những thế lực thù địch ở trong và ngoài nước, những kẻ tự xưng là “người yêu nước”, “người bất đồng chính kiến” cố tình xuyên tạc, phủ nhận thắng lợi vĩ đại đó của dân tộc ta bằng những luận điệu hết sức phi lý, rằng: đó là sự nhân nhượng của Chính phủ Mỹ chứ không phải là thắng lợi của Việt Nam; chiến tranh Việt Nam là cuộc “nội chiến” huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam – Bắc, cuộc chiến tranh Việt Nam là “cuộc chiến tranh mang tính chất ủy nhiệm, chiến tranh mang tính ý thức hệ…”. Đây hoàn toàn là những luận điệu sai trái, xuyên tạc nhằm mục đích phủ nhận sự thật lịch sử một cách lố bịch của những kẻ có mưu đồ chính trị đen tối, để ngụy biện cho một sự thất bại nhục nhã của một chế độ “Thích viện trợ”, một chính quyền “không làm mà vẫn muốn ăn”!

Chiến thắng 30/4/1975 dưới những góc nhìn khách quan của thế giới

Chiến thắng 30/4 đã qua đi 46 năm nhưng ý nghĩa, giá trị to lớn của nó vẫn tồn tại mãi với thời gian, nhất là đối với các dân tộc đã và đang nỗ lực đấu tranh vì sự tiến bộ, văn minh, hạnh phúc. Đối với họ, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Nhân dân Việt Nam là một trong những chiến công lớn của thế kỷ XX, là bản thiên anh hùng ca vĩ đại của chiến tranh Nhân dân trong thời đại Hồ Chí Minh. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đã được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, được lịch sử kiểm chứng sáng tỏ, rõ ràng và xem đó như một biểu tượng của tinh thần không chịu khuất phục, là tấm gương để họ noi theo trên con đường giải phóng dân tộc tìm đường tự quyết, thoát khỏi sự lệ thuộc vào các nước đế quốc, thực dân.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng đánh giá: “Trong quá trình cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng, ba cái mốc chói lọi bằng vàng: Tổng khởi nghĩa tháng Tám, Chiến thắng Điện Biên Phủ và Chiến thắng mùa Xuân 1975 mãi mãi sáng ngời trong sử sách. Nhân dân Việt Nam đã làm nên câu chuyện thần kỳ tưởng chừng không thể làm được giữa thế kỷ XX”. Ngay cả chính khách, Henry Kissinger, cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ cũng thừa nhận sai lầm trong cuộc chiến của họ tại Việt Nam: “Hà Nội chỉ chiến đấu với một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ. Và một nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản Việt Nam, chiến thắng vào năm 1975…”.

Là công dân Việt Nam - một dân tộc Anh hùng, bất khuất, yêu hòa bình, chắc chắn không ai có thể chấp nhận những luận điệu bôi đen lịch sử về Chiến thắng vĩ đại 30/4/1975, mà các thế lực thù địch xuyên tạc. Những luận điệu đó hoàn toàn đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc và nguyện vọng của Nhân dân. Bởi lẽ đó, chúng ta cần nhận thức rõ bản chất của Cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước và chiến thắng lịch sử 30/4. Cụ thể:

Thứ nhất, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là cuộc chiến tranh chính nghĩa, nhằm đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Với âm mưu xóa bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đã nhảy vào xâm chiếm nước ta, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, phục vụ cho mưu đồ sen đầm khu vực. Mỹ đã đưa vào đây hơn 500.000 quân và sử dụng tất cả các loại vũ khí, kỹ thuật hiện đại nhất, kể cả vũ khí hóa học với mưu toan đè bẹp ý chí chiến đấu của chính quyền VNDCCH hòng buộc chúng ta phải khuất phục. Điển hình của sự thảm khốc, tàn bạo đó là quân đội Mỹ đã dùng pháo đài bay B.52, ném bom hủy diệt Hà Nội và một số thành phố khác, hòng “đưa miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá” (năm 1972), Chính đế quốc Mỹ và chính quyền sài gòn đã “gắp lửa bỏ tay người” cho rằng Việt Nam đem quân xâm lược miền Nam, chiến tranh 02 miền là “nội chiến”. Chính mỹ và chính quyền “ăn hại” kia đi ngược lại với những điều khoản đã ký trong Hiệp định Giơnevơ là hai miền Nam – Bắc sẽ tiến hành cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước vào năm 1956.

Trái với nguyện vọng thiết tha hòa bình, khát vọng hạnh phúc của nhân dân ta, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã từng bước vi phạm Hiệp định, dựng lên chính quyền tay sai bù nhìn, lê máy chém khắp miền Nam, biến miền Nam Việt Nam thành nhà tù khổng lồ, chia cắt đất nước ta thành hai miền với hai chế độ chính trị – xã hội khác nhau. Vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì sự tồn vong của dân tộc buộc toàn thể nhân dân Việt Nam phải cầm súng chiến đấu chống quân xâm lược. Với chân lý “Không có gì quí hơn độc lập, tự do”, “Nam – Bắc một nhà”, “miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam”; “sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”… Dưới sự lãnh đạo tài tình, đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta ở cả hai miền Nam, Bắc đã đồng tâm, hiệp lực, không ngại hy sinh, gian khổ, đoàn kết chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh phi nghĩa, tàn bạo của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, giành thắng lợi với mốc son chói lọi là Đại thắng Mùa xuân 30/4/1975, thu non sông đất nước về một mối, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của cả dân tộc.

Thứ 2, Chiến thắng lịch sử 30/4 là công sức của toàn nhân dân 02 miền Bắc - Nam trong đó nhân dân miền Bắc đã làm tròn vai trò sứ mệnh lịch sử của mình là căn cứ địa cách mạng của cả nước, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 12/1965) đã khẳng định thành tựu của hơn 10 năm khắc phục hậu quả của chiến tranh, cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Miền Bắc đã trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt Nam trong cả nước, với một chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế và quốc phòng lớn mạnh”. Quán triệt tinh thần đó, nhân dân miền Bắc đã tích cực, chủ động với tinh thần “một ngày làm việc bằng hai”, “tiền tuyến gọi, hậu phương đáp”, “thóc không thiếu một cân quân không thiếu một người”; vì miền Nam ruột thịt, nhân dân miền Bắc sẵn sàng đáp ứng đầy đủ những nhu cầu về vật chất và tinh thần cho cuộc kháng chiến trường kỳ lâu dài nhưng nhất định thắng lợi. Vì vậy, trong suốt 21 năm chiến tranh, miền Bắc đã chi viện liên tục, toàn diện với nhịp độ ngày càng tăng, đáp ứng đòi hỏi của chiến trường miền Nam, cách mạng miền Nam. Trong vòng 10 năm (từ năm 1965 đến 1975), miền Bắc đã động viên hàng triệu lao động, chủ yếu là thanh niên trẻ, khỏe, ưu tú để bổ sung, mở rộng lực lượng vũ trang và phục vụ chiến đấu. Trong thời gian diễn ra những cuộc tiến công chiến lược (1968, 1972, 1975), nhân lực động viên ở miền Bắc phục vụ nhu cầu chiến tranh tăng gấp 4 đến 5 lần so với trước. Không tính số quân bảo vệ miền Bắc, làm lực lượng dự bị chiến lược, chiến đấu và công tác trên tuyến vận tải 559, chỉ tính riêng số quân đưa vào miền Nam trong các năm kể trên như sau: năm 1968 là 141.000 người, năm 1972 xấp xỉ 153.000 người, năm 1975 là 117.000 người. Ngoài lực lượng trực tiếp chiến đấu, các lực lượng vận tải, bảo đảm giao thông, mở đường và các lực lượng bảo đảm khác gồm hàng chục vạn người cũng được động viên từ miền Bắc.

Như vậy, có thể thấy cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không còn là nhiệm vụ của riêng mỗi miền mà đó là nhiệm vụ chung của cả dân tộc, của khối đại đoàn kết toàn dân; đồng thời, khẳng định vai trò to lớn của nhân dân miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc.

Do đó, đối với dân tộc Việt Nam, chiến thắng 30/4/1975 không phải là thắng lợi dễ dàng. Để giành được thắng lợi trong cuộc chiến tranh khốc liệt và tàn ác đó của đế quốc Mỹ, hơn 3 triệu đồng bào, chiến sĩ của ta đã ngã xuống; hàng ngàn làng mạc, thành phố đã bị san phẳng; đến nay, nhiều di chứng của cuộc chiến tranh vẫn tồn tại dai dẳng chưa thể khắc phục. Nhưng qua cuộc chiến, Việt Nam một lần nữa lại chứng tỏ trước lịch sử và thế giới về một đất nước kiên cường, bất khuất với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV (năm 1976) của Đảng khẳng đinh: Năm tháng sẽ trôi qua nhưng thắng lợi của Nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (30/4/1975) mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của Chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc…

CHÍ NGUYỄN