ĐỐT VÀNG MÃ LÀ MỘT HỦ TỤC CẦN HẠN CHẾ

 

 

Tưởng nhớ người đã khuất là một nét văn hóa trong phong tục tập quán của người Việt từ xưa đến nay và ảnh hưởng từ Trung Hoa vàng mã được xem là một quan niệm về nhân sinh quan, về triết lý uống nước nhớ nguồn, về linh hồn, về thế giới tâm linh đó. Nghi thức hóa vàng mã như biểu hiện để hiện thực hóa quan niệm triết lý dân gian “trần sao âm vậy”, có nghĩa là người sống cần có gì, người âm cũng cần có cái đó. Bằng rất nhiều cách người sống cố gắng liên hệ với thế giới linh hồn. Họ đốt tiền, vàng mã là để tin rằng người chết cũng có được cuộc sống đủ đầy. Trải qua bao biến thiên của lịch sử, càng khiến cho người Huế ai ai cũng tâm niệm “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Việc hóa vàng mã càng trở thành một điều linh thiêng và cần thiết.

Tập tục từ ngàn xưa

Tục đốt vàng mã là tập tục ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, ăn sâu vào tâm thức mọi tầng lớp nhân dân, là nghi lễ dựa trên tín ngưỡng thờ cúng của người Việt Nam từ nhiều đời nay. Tập tục này ảnh hưởng từ Trung Quốc.

Hòa Thượng Thích Huệ Phước - Phó Trưởng Ban trị sự kiêm Chánh thư ký Giáo hội Phật giáo VN tỉnh Thừa Thiên Huế khẳng định, tục đốt, rải vàng mã bắt nguồn từ Trung Quốc, nó không thuộc về văn hóa Việt Nam và càng không phù hợp với tinh thần từ bi trí tuệ của Phật giáo.

Bởi lẽ đạo Phật là con đường đi lên của trí tuệ giác ngộ giải thoát. Không có bóng dáng mê tín dị đoan trong giáo lý nhà Phật. Quan điểm của đạo Phật luôn bác bỏ những tục lệ mê tín có phương hại đến thuần mong mỹ tục.

Theo Thượng tọa Thích Tịnh Giác – Sư Trụ trì chùa Phúc Sơn, thôn Kim Sơn, xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm, Hà Nội.

 Bản chất của việc đốt vàng mã không phải là xấu, không phải mê tín, nhưng nếu đốt mà không hiểu thì vô tình người Việt đang mắc phải 6 tội lỗi, trong đó lớn nhất là tội làm mất đi tính dân tộc, lừa gạt chính mình và làm tổn thương lòng từ bi.

Nếu ai đốt hình nhân thế mạng và đốt vàng mã thì phạm phải những điều như sau:

Thứ nhất, mất đi tính dân tộc của người Việt Nam, tức là chúng ta đang bị đô hộ văn hóa.Vàng mã và hình nhân thế mạng không phải xuất phát từ Việt Nam mà xuất phát từ Trung Hoa. Cách đây mấy nghìn năm, chúng ta nằm ở phương Bắc, chịu ảnh hưởng của nền văn hóa này. Thời xưa, tại Trung Quốc có những hủ tục tin vào thần quyền, tin vào thần linh, tin vào sự huyền bí.

Con người thời buổi đó chưa được văn minh, chưa phát triển nên họ nhìn vào các hiện tượng tự nhiên cũng cho rằng ma quỷ. Mỗi năm đến ngày tế hà bá thì họ mang một cô gái đẹp trong làng để dâng cho hà bá. Hoặc là ngày cúng thần lửa cũng phải đưa một cô gái đẹp lên giàn thiêu.

 

Hay khi nhà vua chết, các cung phi mỹ nữ của vua cũng phải tuẫn tiết theo. Nhà vua chết, quan quân phải xây lăng tẩm ở dưới lòng đất sau đó đưa hết vàng bạc, châu báu của nhà vua đem chôn ở dưới đó với ý nghĩ là trả lại cho vua. Và xuất phát từ đó, hình nhân thế mạng, vàng mã được tạo ra là để đối phó với những hủ tục này.

Vua chết, các quan quần thần có con gái là phi tần của vua cũng đau đớn vì con mình phải chết theo. Khi con người bắt đầu văn minh, bắt đầu biết yêu thương lẫn nhau, bắt đầu có tình người thì họ phải nghĩ cách để đối phó với các tập tục. Các hình nhân được tạo ra, trên người hình nhân có ghi tên của các phi tần, của các cô gái đẹp được mang đi đốt, như là một sự thế mạng cho con người. Vàng bạc cũng vậy, nếu mang chôn đi sẽ là sự lãng phí lớn, làm tổn thất của cải của đất nước nên người Trung Hoa cũng làm vàng mã để đốt đi, thay cho vàng bạc phải mang chôn.

Người Trung Hoa làm vậy để cứu mạng những người sống cho nên việc làm này lúc ban đầu là rất đúng – Sư thầy Thích Tịnh Giác cho biết.

Cũng theo thầy Tịnh Giác, vào thời kỳ đó vẫn chưa có trường học, giáo dục chưa phát triển nên không thể truyền đạt được ý nghĩa này cho thế hệ sau mà mai một dần qua hình thức truyền khẩu, tam sao thất bản, người trước làm rồi người sau biến hóa đi và vàng mã không còn được sử dụng theo đúng nghĩa nữa.

Người ta cứ nghĩ là khi có ai chết là phải đốt vàng mã, hay khi bị bệnh tật thì phải đốt hình nhân để chữa bệnh nên mới dẫn đến việc không hiểu và làm không đúng. Đốt vàng mã với ý nghĩa để cho người đã chết được tiêu dùng thì lại càng sai, và khi đó, đốt vàng mã trở thành mê tín.

“Ngày nay, chúng ta đang sống trong xã hội phát triển, văn minh hơn, không còn những hủ tục khi xưa nữa thì cũng nên dừng lại việc đốt vàng mã không đúng nghĩa như thế này. Nếu như chúng ta vẫn sử dụng vàng mã thì vô tình chúng ta đang mất đi sự hiểu biết của mình, làm mất đi văn hóa, tín ngưỡng, mất đi bản chất của dân tộc Việt, cũng đồng nghĩa với việc chúng ta đang bị nô lệ về văn hóa” – Thầy Tịnh Giác nói.

Tội thứ hai, khi đốt vàng mã mà thầy Tịnh Giác đưa ra là: đốt vàng mã chính là một sự mâu thuẫn trong tâm tư của con người. Khi người thân mất đi, ai cũng cầu mong họ sẽ được về một thế giới an lạc, một thế giới tươi đẹp chứ không ai mong muốn người thân chết đi lại phải xuống âm phủ. Thế nhưng khi người Việt đốt vàng mã thì lại có ý nghĩ rằng đốt cho người thân ở dưới âm phủ có cái mà dùng.

Đó chính là một sự mâu thuẫn lớn trong tư tưởng. Tâm thì muốn người thân đi về cõi tịnh độ, nhưng hành động thì lại thể hiện là người thân đó bị đày xuống địa ngục làm trâu làm ngựa, làm ma quỷ để nhận những thứ được đốt, tức là người đó sẽ không được siêu thoát.

Tội thứ ba, là chúng ta đang lừa gạt chính mình. Tội lừa dối chính bản thân là tội nặng nhất. Chúng ta cúng 1 triệu nhưng lại không dám cầm 1 triệu đó ra để đốt, mà phải tốn thêm 50 nghìn tiền xe để chạy đi mua vàng mã, tức là quy đổi tiền thật thành tiền giả, đồ dùng giả sau đó mới mang về đốt để lừa dối chính mình. Như vậy, chúng ta đang sống có xác mà không có hồn, không có sự tỉnh thức.

Con người sống mà không có hồn là con người vô dụng, không có ích cho xã hội và là một sự lãng phí vô cùng lớn” – Sư thầy Thích Tịnh Giác phân tích.

Tội thứ tư mà người Việt đang mắc phải khi đốt vàng mã là làm tổn thương lòng từ bi, con người quá ư ích kỷ. Trong khi bao nhiêu người nghèo đang đói khổ, đang mắc phải chứng bệnh nặng thì không góp tiền lại để cứu giúp họ, đóng góp để nghiên cứu chữa trị những căn bệnh nan y mà nhẫn tâm đem đốt những đồng tiền của mình một cách vô nghĩa.

Cũng có nghĩa người Việt đang tiêu diệt lòng từ bi của chính mình, dẫn đến xã hội bất an, gia đình bất ổn. Con người không còn tình thương thì sẽ không có chuyện thương vợ thương chồng thương con thương cái. Vô hình, hành động đó đang tạo lên một sự bất an lớn cho gia đình, xã hội.

Tội thứ năm, chúng ta đang tin tưởng một cách vô căn cứ những điều mà chúng ta đang làm. Việt Nam đồng không phải là tiền tệ phổ biến thế giới, và khi giao dịch với các nước khác, đồng tiền của chúng ta phải được bảo chứng, phải thông qua ngân hàng để đổi sang tiền USD, tiền của Lào, của Thái Lan, của Campuchia…. để giao dịch.

Vậy với loại tiền vàng mã mà chúng ta đang đốt, ai sẽ là người bảo chứng cho chúng ta là sẽ dùng được ở dưới âm phủ? Ngân hàng nào sẽ đứng ra quy đổi cho chúng ta? Cho nên đây là điều không hợp lý và chúng ta cần phải xem lại xem tinh thần của mình liệu có đang ổn định?” – Thầy Tịnh Giác nói.

Tội thứ sáu, khi đốt vàng mã làm phạm phải tội sát sinh. Giấy được làm từ cây rừng, khi con người sử dụng phải có sự chuyển đổi, phải giúp ích cho cuộc sống của con người. Nếu sử dụng chỉ để thỏa mãn cho vấn đề tâm linh nhưng sự thỏa mãn đó lại không có căn cứ, không hợp lý thì vô tình gây nên sự lãng phí lớn, đang khuyến khích chặt cây rừng, hủy hoại môi trường, đe dọa đến cuộc sống của con người để phục vụ mục đích không đúng đắn. Đó là cũng được xếp vào tội sát sinh.

“Chúng ta đều là những người có ăn có học cho nên đừng để thua nhưng “con buôn”, đừng để sống chỉ có xác mà không có hồn. Tôi tin rằng, khi mọi người biết được, hiểu được thì sẽ mọi người sẽ hành động khác” – Thầy Thích Tịnh Giác kết luận.

 

                                     

 Nên hay không nên “ cổ súy” đốt vàng mã ?

Ngày 12/11/2014 UBMTTQ Việt Nam thành phố Huế tổ chức buổi tọa đàm về “Hiện tượng vàng mã-lịch sử và những vấn đề quan tâm hiện nay”. Theo ý kiến của các nhà chuyên môn tại buổi tọa đàm, ngày nay tục đốt vàng mã đã biến tướng đến mức khôi hài đáng báo động. Các cơ sở sản xuất vàng mã đã “năng động” đến mức đã làm ra các sản phẩm thời thượng từ ô tô, xe máy, điện thoại thông minh (Iphone, Ipad, smatphone), tiền đồng dolar, tiền ngân hàng địa phủ cho đến cả các người mẫu, ca sĩ, diễn viên nổi tiếng…để phục vụ cho nhu cầu của người dùng.

Trong các lễ nghi tang ma, hiếu nghĩa, người ta không chỉ đốt vàng mã truyền thống mà còn phung phí hàng chục, có khi đến hàng trăm triệu cho việc đốt các vật dụng vàng mã.

Qua thống kê chưa đầy đủ hiện trên địa bàn thành phố Huế có 226 cơ sở sản xuất và kinh doanh vàng mã. Thu hút khoảng 356 lao động, doanh thu hàng năm ước tính khoảng 50 đến 60 tỷ đồng.

Vì Thừa Thiên Huế là một trong những địa phương tiêu thụ hàng mã lớn của cả nước do đó có nhiều ý kiến tranh cãi xung quanh “câu chuyện vàng mã”. Một số người cho rằng đốt vàng mã là hủ tục mê tín dị đoan, không có ích cho xã hội.

Một số khác cho rằng đó là chuyện bình thường, thể hiện mối quan hệ cung cầu tất yếu xảy ra trong cơ chế thị trường và chắc sẽ không thể ngăn cấm được.

Tục đốt vàng mã nếu hiểu theo gốc độ văn hóa, chúng ta có thể nhìn nhận đó là một tập tục mang tính đạo lý của người phương Đông và Việt Nam nói riêng.

Việc đốt đồ mã xuất phát từ ý nghĩa lễ thể hiện lòng thành kính của người sống đối với người chết. Trên quan niệm “kẻ chết sống vô hình bên cạnh người sống” và “ở thế giới bên kia, mọi thứ ngược lại với người sống…” đã trở thành hoạt động không thiếu trong các nghi lễ cúng tế. Và dĩ nhiên đồ mã cũng từ đó được sử dụng như là phương tiện để biểu lộ danh phận và thực lực cá nhân trước thế lực siêu hình.

Việc ngăn chặn hoàn toàn tục đốt đồ mã cũng không thể thực hiện được. Chúng ta chỉ có thể đưa ra những biện pháp nhằm ngăn chặn triệt để các thành phần lạm dụng việc đốt đồ mã.

Chúng ta phải hiểu rằng: Đốt hình nhân thế mạng, vàng mã lúc đầu chưa phải là sự mê tín, nhưng về sau trở thành hủ tục vì nó trở thành một vấn đề mang tính kém hiểu biết và chưa được giáo dục. Cần phải hiểu về hình nhân thế mạng và vàng bạc xuất phát từ đâu, khi mọi người đã nghe được và hiểu biết về nó như sự phân tích ở trên của các nhà Sư, chúng ta tin mọi người sẽ không làm điều đó nữa.

Nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh thì cho rằng: “Việc hạn chế đi đến chấm dứt, bài trừ hủ tục rải đốt vàng mã trong tang tế hoàn toàn không phương hại gì đến tìn ngưỡng thời cúng tổ tiên, vong linh của người Việt. Bởi vì hạt nhân của tín ngưỡng này là tôn trọng, phụng thờ, tưởng nhớ người đã khuất.

Tôn trọng, thờ cúng, tưởng nhớ người đã khuất đòi hỏi phải dâng cúng những gì thanh khiết như hoa quả phẩm, thực hiện các động tác lễ bái trang trọng. Chứ không phải dâng cúng vật thực linh đình, đốt minh khí, áo giấy, vàng mã chất chồng”.

Bởi vậy, để hạn chế việc đốt vàng mã các cơ quan chức năng cần tổ chức tốt việc tuyên truyền giải thích, vận động nhân dân hưởng ứng nếp sống mới, giảm việc đốt vàng mã khi cúng tế và rải vàng mã khi đưa tang,

Ngoài ra cần quản lí các cơ sở sản xuất nhất là việc cấm chỉ việc in và buôn bán tiền giấy mô phỏng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam hay mô phỏng tiền đô của nước ngoài.

Đặc biệt mọi người dân càng phải ý thức rõ rải vàng mã khi đưa tang, cúng và đốt vàng mã, đồ giấy là tập tục không phải của người Việt Nam mà chỉ là hủ tục của người Hoa từ thời phong kiến xa xưa.

                                                               THUẬN HÓA