ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - "THỜI THẾ TẠO ANH HÙNG"
Trong những giai đoạn của lịch sửa đấu tranh cách mạng của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh được vai trò lãnh đạo của mình mà không một đảng phái, lực lượng nào có thể đủ tầm đảm đương. Mỗi kỳ Đảng ta tổ chức Đại hội Đại biểu là một lần đất nước, dân tộc Việt Nam tạo nên những giá trị lịch sử vẻ vang trước chông gai của thời cuộc
Từ sau Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam tháng 02/1930 ở Hồng Kông, đánh dấu sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam – đội quân tiên phong lãnh đạo của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam. Đảng đã vận dụng sáng tạo và linh hoạt đường lối, sách lược đấu tranh từ cuộc thử lửa Xô viết Nghệ Tĩnh 1930 đến phong trào đấu tranh đòi dân chủ 1936 – 1939 với phương pháp uyển chuyển, khôn khéo, lấy sức quần chúng để tập dược cho đảng viên và quần chúng về đấu tranh chính trị. Điều đó, đã tạo thế và lực cho Đảng khi thời cơ giành độc lập “ngàn năm có một”, làm nên cuộc cách mạng tháng Tám 1945 lịch sử - một nước dân chủ nhân dân đầu tiên tại Châu Á được ra đời khi chỉ với … 5000 đảng viên và đó là một điều không tưởng đối với bất kỳ đảng phái chính trị nào từ trước đến nay. Sau những thắng lợi mang tính chất chiến lược, làm thay đổi cục diện chiến tranh, Đảng ta đã tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (1952) xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam đó là đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng đất nước tiến lên theo con đường chủ nghĩa xã hội. Từ đây, nhiệm vụ của Đảng là phải lãnh đạo toàn quân, toàn dân kháng chiến thắng lợi, đánh đuổi thực dân Pháp giành độc lập dân tộc, xóa bỏ tàn tích phong kiến, xây dựng đất nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa. Dưới ánh sáng của Đại hội lần thứ III của Đảng, quân và dân ta đã liên tiếp là chủ chiến trường trong cả nước, đặc biệt đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 07/5/1954, Miền Bắc được giải phóng, tiến lên chủ nghĩa xã hội tạo cơ sở để Đảng lãnh đạo quân và dân cả nước tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tại miền Nam.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960) được coi là “nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng và toàn dân ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà”. Sau 5 năm miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội và miền Nam đã chuyển từ đấu tranh chính trị, đòi Mỹ Diệm thi hành Hiệp định Gioneve sang đấu tranh vũ trang chính trị giành độc lập dân tộc; Đảng xác định phải xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc để tạo ra cơ sở vật chất, nguồn lực, đủ sức chi viện sức người, sức của cho miền Nam đánh giặc. Trong 16 năm (1960 – 1976), đây được coi là nhiệm kỳ đầy vẻ vang của Đảng ta, chính trong giai đoạn lịch sử này, Đảng đã lãnh đạo toàn dân tộc liên tiếp giành những thắng lợi trong công cuộc xây dựng và chiến đấu: đó là đã phục hồi và phát triển kinh tế, xã hội ở miền Bắc, quân và dân hai miền đã giành nhiều chiến thắng mang tính chất chiến lược khi quân dân ta và thắng Mỹ, làm thất bại các chiến lược chiến tranh cục bộ, đặc biệt, Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ và tay sai, dám đánh Mỹ và thắng Mỹ; Đảng đã linh hoạt đường lối đấu tranh với “3 mũi giáp công” kết hợp quân sự, chính trị và ngoại giao khi chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam và Chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, xây dựng Quân giải phóng miền Nam nhằm tranh thủ rộng rãi sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân và quốc tế; ta đã chủ động đàm phán với phía Mỹ không để bị động như năm 1954. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân ta đã từng bước “đánh cho Mỹ cút” vào năm 1973 khi chấp nhận cay đắng ký vào Hiệp định Pari 1972 và “đánh cho ngụy nhào” với chiến thắng vinh quang ngày 30/4/1975, đất nước thống nhất, Nam Bắc một nhà.
Sau ngày đất nước thống nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục sứ mệnh lãnh đạo nhân dân ta thực hiện công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện sự nghiệp đổi mới, cải cách đưa đất nước phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trải qua các kỳ Đại hội thống nhất toàn quốc lần thứ IV, V và đặc biệt là Đại hội VI – “Đại hội Đổi mới” cho đến nay là Đại hội lần thứ XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã cho thấy tư duy nhạy bén trong lý luận và thực tiễn khi đã mạnh dạn đổi mới cách thức lãnh đạo, quản lý nền kinh tế, xã hội xóa bỏ phương thức kinh tế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh thế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa – một mô hình kinh tế đã khiến nhiều quốc gia và Đảng Cộng sản anh em khác hoài nghi tính khả thi và bản chất chế độ của ta. Nhưng sau 35 năm, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã trở thành một hình mẫu cho sự thành công, phát triển của lý luận Mác Lê nin sau những biến động chính trị thế giới cuối thế kỷ XX khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản tạm thời suy thoái. Việt Nam đã từng bước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế liên tục tăng trưởng nhanh và ổn định, đứng vững trước các cuộc suy thoái kinh tế thế giới; đa dạng hóa thành phần kinh tế trong đó ngoài kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo thì kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã phát huy giá trị của mình. Đồng thời cũng chứng minh Đảng ta luôn trung thành với chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên con đường lãnh đạo đất nước, thông qua việc vận đúng đắn, sáng tạo giữa 02 yếu tố “kinh tế thị trường” với “chủ nghĩa xã hội” thể hiện tầm lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời đại mới.
(11).jpg)
Bản lĩnh của Đảng thể hiện càng rõ ràng trước những thách thức đầy khó khăn, phức tạp trong thời đại ngày nay. Trên con đường phát triển, không tránh khỏi những mầm cỏ dại, làm hư hoại ruộng lúa vàng, làm xói mòn uy tín của Đảng trước nhân dân. Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XII và XII, Đảng ta đã dũng cảm nhìn nhận sự thật, quyết tâm làm trong sạch đội ngũ, giữ vững uy tín với nhân dân đây là yếu tố sống còn của Đảng, của chế độ. Với sự ủng hộ của toàn thể dân tộc, cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí của Đảng đã thu hái nhiều kết quả, làm nức lòng cán bộ, đảng viên và nhân dân, uy tín của Đảng ngày thêm củng cố, niềm tin của cán bộ, đảng viên và quần chúng đối với Đảng đã trở lại. Đại hội lần thứ XIII của Đảng diễn ra trong bối cảnh “thời thế” phức tạp vô cùng, khi thiên tai, dịch bệnh và quan hệ quốc tế có nhiều tác động tiêu cực đến nước ta nhất là hậu quả của dịch bệnh Covid19 trong suốt năm 2020 và đặc biệt chính trong những ngày diễn ra Đại hội đã thêm minh chứng bản lĩnh, bản chất của Đảng. Dưới sự lãnh đạo bình tĩnh, quyết liệt, sự điều hành khoa học, đúng đắn của Nhà nước, Việt Nam đã thành công trong ngăn chặn, khống chế và điều trị thành công dịch bệnh Covid19, nền kinh tế vẫn tiếp tục tăng trưởng tuy thấp hơn, đời sống nhân dân vẫn duy trì bình thường đã làm ngạc nhiên cho cả thế giới. Việt Nam trở thành một hình mẫu mô hình quản lý xã hội tiến bộ khi mà Chính phủ không đánh đổi sinh mạng người dân để phát triển kinh tế, “không để một ai ở lại phía sau” – chính quyền đó đã thực sự là của dân và vì dân, sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là đáp án rõ ràng khi mà quốc tế vẫn đang phân vân chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa xã hội tốt hơn? Đại hộiXIII đã đánh dấu sâu đậm thêm vai trò không thể thay đổi của Đảng đối với vận mệnh dân tộc khi chính quốc tế đánh giá đây là “cột mốc trong lịch sử của đời sống Việt Nam” với mục tiêu đến giữa thế kỷ 21, Việt Nam trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
“Thời thế tạo anh hùng” – trong suốt hơn 90 năm bước lên vũ đài chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã tự mình nắm lấy “thời thế” để hành động cách mạng và từ đó đến nay chỉ có một anh hùng của dân tộc Việt Nam là Đảng Cộng sản Việt Nam chính đảng đã làm cho“đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.
Minh Anh