ĐỪNG NỐI GIÁO CHO GIẶC!
Truyền thuyết xưa Mỵ Châu rắc lông ngỗng trên đường cùng vua cha chạy trốn nên quân Triệu Đà theo vết truy cùng giết tận An Dương Vương, nước ta mới trải qua kiếp nạn 1000 năm Bắc thuộc. Ngày nay, không ít kẻ đang nối giáo cho giặc để hòng độc chiếm Biển Đông.

Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm đóng phi pháp các năm 1956 và 1974 (thuộc phạm vi quản lý của VNCH)
Việc Trung Quốc trơ tráo đưa ra trước quốc tế cái gọi là “bằng chứng” Việt Nam công nhận Trường Sa, Hoàng Sa là của Trung Quốc chỉ với một văn bản mà họ gọi là “công hàm” do cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký gửi Chu Ân Lai năm 1958 và sách địa lý lớp 9 phổ thông có bài viết về địa giới của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Đối với chính phủ Trung Quốc họ xem đó là “bằng chứng chủ quyền” nhưng thật chất những bằng chứng trên hoàn toàn không có tính pháp lý vì không thể hiện được Nhà nước Việt Nam “công nhận” Trườn Sa, Hoàng Sa là lãnh thổ của Trung Quốc.
Về cái gọi là “công hàm” do cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký, gửi cho Chu Ân Lai, chúng ta thấy rõ bản chất đó chỉ là bức thư (chứ không phải là công hàm ngoại giao) của Thủ tướng nước này gửi đồng cấp nước khác để trao đổi công việc mà ở đây là tán thành việc phân chia hải phận giữa Việt Nam và Trung Quốc (ngày 04/9/1958). Nên nhớ rằng, tại thời điểm đó, Chính phủ nước Việt Nam ở đây là Việt Nam dân chủ cộng hòa từ bắc vĩ tuyến 17 trở ra nghĩa là giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa và Trung Quốc tại thời điểm này đang thực hiện phân chia hải phận (biên giới trên biển) và hai bên phải tôn trọng chủ quyền quốc gia trên biển của nhau sau khi phân giới. Trong bức thư không đề cập đến vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, sở dĩ như vậy là vì theo Hiệp định Giơnevơ năm 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền quản lý của Quốc gia Việt Nam và sau này là Việt Nam cộng hòa, sự kiện Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa các năm 1958 và sau này là năm 1974, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ, ở miền Nam Chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng đã lên án hành động của Trung Quốc và khẳng định Hoàng Sa là lãnh thổ của Việt Nam. Tại thời điểm đó, chính quyền và quân đội Việt Nam cộng hòa đã để chủ quyền quốc gia rơi vào phía Trung Quốc mà không hề có động thái nào đánh chiếm, giành lại biển đảo đã mất vì quan thầy Mỹ đã đi đêm, bắt tay với Trung Quốc, bán đứng Việt Nam cộng hòa.

Toàn văn "thư hàm" của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 đề cập đến vấn đề phân chia lãnh hải gữa Việt Nam DCCH và CHND Trung Hoa (từ bắc vỹ tuyến 17 trở ra)
Về sách giáo khoa địa lý lớp 9 của miền Bắc trước 1975, chúng ta thừa nhận đó là sai sót (chứ không phải là sai lầm), xét trong hoàn cảnh miền Bắc tại thời điểm đó tất cả nhân lực, trí tuệ đều tập trung cho nhiệm vụ lớn lao của dân tộc đó là giải phóng miền Nam. Cho nên việc biên soạn sách giáo khoa còn phải phù hợp với đặc điểm tình hình, bối cảnh lịch sử. Hơn nữa như đã nói, lúc này người ta ít mà quan tâm đến vấn đề trên biển để biết thế nào là Tây Sa, Nam Sa,... Cũng như vậy, ngay cả sách giáo khoa địa lý của miền Nam trước năm 1975 cũng gọi Biển Đông là Nam Hải (biển phía Nam nướcTrung Quốc). Sách giáo khoa địa lý trên đã được thay thế từ rất lâu, hiện nay không có giá trị dạy và học để thấy rõ sai sót trên không phải xuất phát từ chủ trương, đường lối mà là vấn đề của một giai đoạn lịch sử.
Những cái gọi là “bằng chứng” của Trung Quốc trên không có căn cứ pháp lý để bảo vệ cho sự ngụy biện âm mưu độc chiếm Biển Đông của họ, những thứ trên không phải và công văn hành chính Nhà nước Việt Nam, không phải là tư liệu lịch sử có giá trị đã bị Chính phủ và toàn thể nhân dân Việt Nam bác bỏ dẫn đến chúng trở thành thứ vô dụng. Thế nhưng rất nhiều người trong thời gian qua đã tin theo luận điệu của các thế lực thù địch chống Cộng thường xuyên lấy cái “công hàm Phạm Văn Đồng” giả để cố tình vu cáo Chính phủ Việt Nam “dâng Hoàng Sa” cho Trung Quốc, nực cười là ai ai cũng hiểu rõ đạo lý không thể bán thứ tài sản mà mình không sở hữu cho kẻ khác. Tương tự như chuyện cái “mật ước Thành Đô” cho đến nay tất cả đã phải thừa nhận một cú lừa mấy thập kỷ của thành phần phản động dựng nên. Cũng như vì vô tình, hay hữu ý mà nhiều người đã lên án, phê phán những người biên soạn sách địa lý trên, họ cho rằng những người này đã “bán nước” khi để “Tây Sa”, “Nam Sa” của Trung Quốc với thâm ý quy kết, vu cáo, hướng dư luận đến việc Nhà nước chỉ đạo.
Những người này quên rằng, Trung Quốc chỉ chờ có thế, cho dù Chính phủ Việt Nam phản đối, cho dù “chứng cứ” của họ không có giá trị thế nhưng Trung Quốc chỉ cần đưa ra lý lẽ “dư luận tại Việt Nam công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc”. Nên nhớ rằng, Trung Quốc đã móc mồi sẵn chỉ chờ Việt Nam mắc câu do đó đừng đẩy Chính phủ Việt Nam vào cái bẫy giăng sẵn của người Tàu, khi đó phía Trung Quốc chỉ cần đưa ra một số liệu, danh sách những người hoặc tài khoản mạng xã hội phê phán Chính phủ Việt Nam “bán biển đảo” (nghĩa là công nhận cho Trung Quốc “sở hữu”) thì chỉ biết lắc đầu, thở dài mà thôi!
Đáng lẽ ra chúng ta phải đồng lòng hiệp lực, sử dụng tiếng nói của công dân thời đại hội nhập quốc tế để bác bỏ những chứng cứ phi lý, những luận điệu, hành vi ngang ngược của Trung Quốc thì ngược lại “vạch áo cho người xem lưng”, tạo sơ hở để kẻ ngoại bang biến không thành có.
Hãy yêu nước sáng suốt! Xin đừng “nối giáo cho giặc”!
NGUYỄN NHÂN TÂM